Thông qua dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết và phù hợp với công ước quốc tế
KQH - Tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam khóa XIV đã chính thức thông qua dự thảo Luật Tín ngưỡng,
tôn giáo (TNTG). Mục đích, ý nghĩa, tính nhân văn của việc làm ấy được
thể hiện rất rõ ràng. Thế nhưng ngay sau đó, trên một vài trang mạng ở
nước ngoài đã xuất hiện những luận điệu sai trái hòng xuyên tạc việc làm
ấy của Quốc hội Việt Nam.
Họ
nói rằng, “ở các nước văn minh, người ta không bao giờ ra Luật TNTG”.
Họ còn xuyên tạc rằng: Dự án Luật TNTG mà Quốc hội Việt Nam thông qua
“không nhằm phục vụ nhân quyền mà chỉ để phục vụ cho sự cai trị của Đảng
Cộng sản...”. Những nhân vật đưa ra các luận điệu ấy chứng tỏ họ chẳng
hiểu gì về tự do TNTG trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng.
Cần phải khẳng định rằng, tự do TNTG là một trong những quyền nhân thân cơ bản của con người. Điều này không chỉ được thể hiện rõ trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà còn được quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật của các quốc gia.
Tại Điều 18 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị
được Liên hợp quốc phê chuẩn ngày 16-12-1966 (Việt Nam tham gia công ước
này ngày 24-9-1982), ghi rõ: “1. Mọi người đều có quyền tự do tư
tưởng, TNTG. Quyền tự do này bao gồm tự do có theo một tôn giáo hoặc tín
ngưỡng do mình lựa chọn, tự do bày tỏ TNTG một mình hoặc trong tập thể
với nhiều người khác, một cách công khai hoặc thầm kín dưới hình thức
thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và giảng đạo; 2. Không ai bị ép buộc làm
những điều tổn hại đến quyền tự do lựa chọn một tôn giáo hoặc tín
ngưỡng; 3. Quyền tự do bày tỏ TNTG chỉ có thể bị giới hạn bởi những quy
định của pháp luật và những giới hạn này là cần thiết cho việc bảo vệ an
toàn, trật tự công cộng, sức khỏe, đạo đức của công chúng hoặc những
quyền tự do cơ bản của người khác”.
Nghi thức thả chim bồ câu và bóng bay mừng khánh đản Đức Phật.
Ảnh minh họa: TTXVN.
Trên cơ sở Công ước quốc tế và điều kiện chính trị, xã hội, lịch sử,
văn hóa truyền thống của mỗi quốc gia, các nước đều ban hành những quy
định pháp lý để quản lý hoạt động TNTG. Trên thế giới, không có nơi nào
TNTG hoạt động “tự do vô chính phủ” mà đều có những hạn chế theo các quy
định của pháp luật, vì một nền trật tự an ninh chung, vì sức khỏe cộng
đồng, vì đạo đức xã hội hoặc vì sự bảo vệ các quyền và tự do của người
khác.
Ngay tại Mỹ-một đất nước luôn tự cho là “mẫu hình” về tự do tôn giáo,
nhưng trong hệ thống luật pháp vẫn có các quy định để duy trì các tôn
giáo hoạt động đúng nguyên tắc. Chẳng hạn, trong Hiến pháp Hoa Kỳ có quy
định về việc tách biệt giữa nhà thờ và nhà nước trong Tu Chánh Án thứ
nhất, trong đó có nội dung: Nghiêm cấm việc thiết lập một tôn giáo nhà
nước chính thức cũng như cấm chính phủ trợ giúp cho các nhóm tôn giáo...
Tương tự ở Pháp, một nước được xem là đạt nhiều thành tựu về bảo đảm
quyền tự do TNTG, nhưng đây cũng là quốc gia có hệ thống pháp luật khá
đầy đủ và chi tiết về tự do TNTG. Đạo luật ngày 9-12-1905 của Pháp ghi
rõ: “Nền Cộng hòa bảo đảm quyền tự do lương tâm, bảo đảm quyền tự do
thực hành các việc thờ phụng với những hạn chế duy nhất được ban bố...
vì lợi ích trật tự công cộng” (Điều 1). Tại Điều 25 của đạo luật trên
cũng ghi: “Các cuộc hội họp để cử hành một việc thờ phụng được điều hành
trong những trụ sở thuộc một hiệp hội tôn giáo... là công cộng. Chúng
được đặt dưới sự giám sát của nhà chức trách vì lợi ích của trật tự công
cộng”. Còn ở Đức, trong Hiến pháp của nước này cũng có quy định: “Hoạt
động của một tổ chức tôn giáo có thể bị giới hạn hoặc bị cấm nếu mục
đích, hoạt động của tổ chức đó vi phạm các quy định của luật hình sự hay
chống lại chế độ xã hội đã được xác định trong hiến pháp...”. Ở Trung
Quốc, một nước có truyền thống TNTG, văn hóa lâu đời. Để quản lý các
hoạt động TNTG, Trung Quốc cũng ban hành nhiều văn bản luật. Chẳng hạn,
Nghị định 145 ngày 31-1-1994 của chính phủ nước này quy định: “Các nơi
hoạt động tôn giáo phải đăng ký theo thể thức do Cục Tôn giáo Quốc gia
ấn định. Các nơi đó không thể do người nước ngoài điều khiển. Các nơi
thờ tự không được nhận tiền bạc của các tổ chức và cá nhân từ nước ngoài
gửi về. Tiền bạc do người nước ngoài tặng hoặc dâng cúng phải được tiếp
nhận theo luật pháp quốc gia…”.
Như vậy có thể thấy, không chỉ ở Việt Nam mà các nước trên thế giới
đều quan niệm không có tự do TNTG tuyệt đối. Để bảo đảm quyền tự do TNTG
của người dân, các quốc gia trên thế giới đều ban hành trong hệ thống
luật pháp của mình các điều luật cụ thể, hoàn toàn không có chuyện “ở
các nước văn minh, người ta không bao giờ ra Luật TNTG” như giọng điệu
mà các thế lực thù địch đang rêu rao. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn
nhất quán quan điểm tự do TNTG là một trong những quyền cơ bản của con
người. Điều này được thể hiện rất rõ trong thực tiễn lịch sử Việt Nam.
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, trong Hiến pháp đầu
tiên năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tại Điều 10, Chương 2,
nêu rõ: “Mọi công dân có quyền tự do tín ngưỡng”. Sau đó, quyền tự do
TNTG của người dân tiếp tục được Nhà nước Việt Nam tái khẳng định tại
Điều 26, Hiến pháp năm 1959: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”. Kế
thừa và phát triển các bản Hiến pháp trước đó, sau khi nước nhà thống
nhất, Nhà nước Việt Nam đã cho ra đời bản Hiến pháp năm 1980, trong đó
tại Điều 80 cũng thể hiện: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo
hoặc không theo một tôn giáo nào. Không ai được lợi dụng tôn giáo để làm
trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Tiếp đó, tại Điều 70 của
Hiến pháp năm 1992, Nhà nước Việt Nam một lần nữa khẳng định: “Công dân
Việt Nam có quyền tự do TNTG, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các
tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của
các TNTG được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do TNTG hoặc
lợi dụng TNTG để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”.
Không chỉ thể hiện trong Hiến pháp, trong từng giai đoạn cụ thể, để
đáp ứng với yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, trên cơ sở chủ trương,
chính sách của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước và đòi hỏi từ thực tiễn, các
cơ quan chức năng của Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật liên
quan trực tiếp đến bảo đảm quyền tự do TNTG của người dân. Đặc biệt,
ngày 18-6-2004, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
khóa XI đã thông qua Pháp lệnh TNTG. Sau hơn 10 năm thực hiện Pháp lệnh
TNTG, chúng ta đã đạt được những kết quả quan trọng... Tuy nhiên, qua
thực tiễn, Pháp lệnh TNTG và các văn bản quy định chi tiết thi hành cũng
bộc lộ một số điểm bất cập cần khắc phục. Cùng với đó, thực tiễn đời
sống TNTG và công tác quản lý Nhà nước đặt ra những yêu cầu mới, nhiều
vấn đề phát sinh đòi hỏi cấp thiết phải xây dựng Luật TNTG thay thế
Pháp lệnh TNTG. Mặt khác, kế thừa và sửa đổi, bổ sung quy định của Hiến
pháp năm 1992 về quyền tự do TNTG, Hiến pháp năm 2013 đã có những sửa
đổi rất quan trọng liên quan trực tiếp đến việc bảo đảm quyền tự do
TNTG của mọi người dân... Vì vậy, việc ban hành luật để cụ thể hóa đầy
đủ nội dung, quy định và tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về quyền tự do
TNTG càng trở nên cần thiết và cấp bách.
Dự thảo Luật TNTG vừa được Quốc hội thông qua đã thể chế hóa các quan
điểm của Đảng và Hiến pháp năm 2013 nhằm khắc phục những bất cập, tồn
tại của pháp luật về TNTG hiện hành; tiếp tục hoàn thiện hệ thống
pháp luật để bảo đảm hơn nữa quyền tự do TNTG; đổi mới cơ chế quản
lý Nhà nước nhằm tạo sự thông thoáng, minh bạch, tạo cơ chế pháp lý
nhằm tôn trọng, bảo hộ, bảo đảm quyền tự do TNTG của mọi người. Quốc
hội thông qua dự án Luật TNTG còn nhằm củng cố khối đại đoàn kết toàn
dân; tạo điều kiện để quyền tự do TNTG cũng như các giá trị dân chủ, văn
minh của loài người và CNXH được phát huy; giữ vững niềm tin của người
có TNTG vào chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; góp phần thực hiện
tốt chính sách đối ngoại của Nhà nước, đấu tranh chống mọi hoạt động
lợi dụng TNTG; thể hiện trách nhiệm của quốc gia đối với việc thực hiện
pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước quốc tế về các quyền dân sự và
chính trị mà Việt Nam là thành viên.
Đúng như Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó chủ tịch Hội đồng trị sự
Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam,trong trả lời phỏng vấn báo chí
về việc Quốc hội Việt Nam thông qua dự thảo Luật TNTG đã nhấn mạnh: “Đây
là bước ngoặt lớn trong chính sách đối với TNTG ở Việt Nam mà Đảng, Nhà
nước đang thực thi để hiện thực hóa Hiến pháp năm 2013. Luật TNTG này
hơn hẳn các pháp lệnh, nghị định trước đây bảo đảm quyền con người, đáp
ứng được nhu cầu bức thiết của TNTG ở Việt Nam trong thời kỳ mới, hội
nhập quốc tế”. Một trong những mục đích chính của việc thông qua dự thảo
Luật TNTG là nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người, đưa TNTG ở
Việt Nam phù hợp với Công ước quốc tế và thực tiễn đất nước. Những ai
cho rằng dự án Luật TNTG mà Quốc hội Việt Nam vừa thông qua “không nhằm
phục vụ nhân quyền...” là một sự xuyên tạc trắng trợn, không thể chấp
nhận được.